<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <channel rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/2322">
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/2322</link>
    <description />
    <items>
      <rdf:Seq>
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122195" />
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122194" />
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122193" />
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122192" />
      </rdf:Seq>
    </items>
    <dc:date>2026-04-22T11:50:20Z</dc:date>
  </channel>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122195">
    <title>Đánh giá xu hướng mặn và xây dựng mô hình dự báo xâm nhập mặn tại huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122195</link>
    <description>Title: Đánh giá xu hướng mặn và xây dựng mô hình dự báo xâm nhập mặn tại huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng
Authors: Trần, Nguyễn Hoàng Long; Phạm, Lê Hữu Huân
Abstract: Diễn biến xâm nhập mặn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ngày càng trở nên phức tạp và không đồng nhất theo thời gian. Do đó, nghiên cứu kết hợp giữa đánh giá xu hướng mặn từ giai đoạn 2005 – 2023 sử dụng phương pháp kiểm định xu hướng Mann-Kendall và ước lượng xu thế Sen, kết hợp mô hình mạng trí nhớ ngắn hạn định hướng dài hạn (LSTM). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có sự khác biệt xu hướng mặn tại hai giai đoạn 2005-2015 và 2015-2023 tại 3 trạm quan trắc trong đó trạm Long Phú, trạm TP Sóc Trăng và trạm Đại Ngãi đều có xu hướng mặn giảm nhưng không đáng kể bên cạnh đó đỉnh mặn tại chu kì năm năm ngày càng cao và biến động mặn ngày càng lớn thể hiện bởi chỉ số độ lệch chuẩn (SD) giai đoạn sau năm 2015, nghiên cứu nhận ra rằng xu hướng tăng giảm của xâm nhập mặn có khả năng phát hiện các diễn biến bất thường từ đó làm kết quả đầu vào cho mô hình dự đoán mặn, sau khi mô hình được tập huấn đã cho ra được kết quả dự đoán khá cao (R2 tại 3 trạm đều cao hơn 85%). Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này cho thấy mô hình được xây dựng không những được ứng dụng hiệu quả cho việc dự báo và ứng phó với tình huống xâm nhập mặn tại một quan sát mới trong tương lai ở vùng ĐBSCL, mà còn có thể áp dụng rộng rãi ở những vùng khác chịu sự tác động của sự xâm nhập mặn nhằm giúp đưa ra các cảnh báo kịp thời nhầm ứng phó với xâm nhập mặn.
Description: 71 tr.</description>
    <dc:date>2024-05-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122194">
    <title>Đánh giá chất lượng nước mặt tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2021-2022</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122194</link>
    <description>Title: Đánh giá chất lượng nước mặt tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2021-2022
Authors: Trần, Tú Bình; Trần, Việt Trinh
Abstract: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng nước mặt tại tỉnh Vĩnh Long giai đoạn năm 2021 – 2022 từ đó xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm và đề xuất các giải pháp góp phần giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt tại đây. Số liệu chất lượng nước sử dụng trong nghiên cứu do Sở Tài nguyên tỉnh Vĩnh Long cung cấp tại 63 điểm trên sông tỉnh Vĩnh Long bao gồm các thông số: Nhiệt độ, pH, Độ đục. EC, DO, TSS, Fe, COD, BOD5, NH4+, PO43-, E.coli và Coliform. Kết quả nghiên cho thấy Chất lượng nước mặt ở tỉnh Vĩnh Long có dấu hiệu ô nhiễm tương đối cao hơn khi hầu hết các chỉ tiêu đều vượt giới hạn cho phép của QCVN 08–MT:2015 – cột A1 đặc biệt là các thông số như TSS, BOD, COD và Fe2+, NH4+, PO43-, E.coli, Coliform và có chỉ tiêu nhiệt độ, pH đều phù hợp với vòng đời của thủy sinh vật. Chất lượng nước mặt tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 2021- 2022 đánh giá qua VN-WQI chỉ đạt mức trung bình và xấu vào năm 2021 dao động từ 34,67- 82 chỉ đạt chất lượng trung bình đến kém chỉ sử dụng cho mục đích đích tưới tiêu đến sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích tương đương khác (Tổng cục Môi trường, 2019). Song chất lượng nước tỉnh Vĩnh Long cải thiện rõ rệt với kết quả tính toán WQI của năm 2022 dao động từ 50- 97,67 được đánh giá tốt cho đa mục đích sử dụng ở năm 2022. Ngoài ra phân tích thành phần chính (PCA) đã xác định được 7 nhóm giải thích được 86,1% sự biến động chất lượng nước. Kết quả đã cho thấy EC, DO, TSS, COD, BOD5, NO3-, NH4+, PO43-, E.coli và Coliform là các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng nước sông tại tỉnh Vĩnh Long chủ yếu có nguồn gốc từ sản xuất nông nghiệp, các hoạt động sinh hoạt của người dân tại các khu vực đô thị - dân cư, dịch vụ và du lịch, sản xuất công nghiệp, hoạt động nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này cũng đã đề xuất một giải pháp cho cơ quan chức năng để quản lý chất lượng môi trường nước mặt của tỉnh Vĩnh Long sau này.
Description: 91 tr.</description>
    <dc:date>2024-05-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122193">
    <title>Đánh giá chất lượng nước mặt và nhận thức về ô nhiễm chất lượng nước mặt tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122193</link>
    <description>Title: Đánh giá chất lượng nước mặt và nhận thức về ô nhiễm chất lượng nước mặt tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ
Authors: Nguyễn, Y Gel; Lê, Thành Nguyên
Abstract: Nghiên cứu này được thực hiện tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ từ tháng 12 năm 2023 đến tháng 5 năm 2024. Nghiên cứu thực hiện với mục đích đánh giá chất lượng nước mặt tại quận Thốt Nốt từ các số liệu thu thập từ Phòng Tài Nguyên Môi Trường cung cấp tại 15 vị trí quan trắc trong 3 năm 2018, 2019 và 2023 gồm các thông số: Nhiệt độ, pH, DO, TSS, COD, BOD5, NH4+, PO43-, NO3-, NO2-, Coliform. Kết quả cho thấy nước mặt tại quận Thốt Nốt tương đối tốt chỉ có vị trí quan trắc thứ 4 có chỉ số WQI đạt 56 là thấp nhất do nguồn nước mặt tại đây bị ô nhiễm chất hữu cơ COD và BOD, ô nhiễm Nitrit và ô nhiễm Coliform khá cao vượt QCVN 08:2023/BTNMT. Từ đó tiến hành phỏng vấn 60 hộ dân tại vị trí quan trắc 4 để xác thực hiện trạng kênh qua kết quả phỏng vấn, khảo sát ý kiến của người dân tại khu vực nghiên cứu, có 78% ý kiến người dân cho rằng chất lượng nước mặt tại đây ô nhiễm và rất ô nhiễm. Đồng thời có 64% ý kiến cho rằng nước sông ảnh hưởng đến việc tưới tiêu của người dân. Nguyên nhân là do trong năm 2022 tại quận Thốt Nốt xây các công trình cống rãnh thông từ khu dân cư đỗ thẳng nước thải sinh hoạt ra kênh chưa được xử lý làm cho hàm lượng COD và BOD tăng cao nên có 100% ý kiến cho rằng nguyên nhân chính là do nước thải sinh hoạt chưa được xử lý. Có 30% ý kiến cho rằng nước bị ô nhiễm ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán, 45% ý kiến cho rằng ảnh hưởng đến nhà ở và 25% còn lại là ảnh hưởng đến cảnh quan. Có 60% ý kiến đồng ý chi trả làm sạch kênh, trong đó có 75% đồng ý chi trả mức thấp hơn 50.000 vnđ cho cải thiện chất lượng nước tại khu vực, giảm mùi hôi thối, cải tạo cảnh quan môi trường.
Description: 81 tr.</description>
    <dc:date>2024-05-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122192">
    <title>Đánh giá chất lượng nước mặt huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long năm 2022</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/122192</link>
    <description>Title: Đánh giá chất lượng nước mặt huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long năm 2022
Authors: Đoàn, Thị Hồng Thắm
Abstract: Nghiên cứu được tiến hành để đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước mặt tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long năm 2022. Số liệu được thu thập tại các tuyến sông đi qua địa phận huyện Tam Bình với 9 vị trí thu mẫu và 10 chỉ tiêu bao gồm nhiệt độ, pH, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), tiêu hao oxy hoá học (COD), tiêu hao oxy sinh hoá (BOD), Oxy hoà tan (DO), Nitrate (N-NO3-), Lân hoà tan (P-PO43-), Amoni (N-NH4+) và Coliform. QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2, WQI, chỉ số ô nhiễm toàn diện (CPI), chỉ số ô nhiễm hữu cơ (OPI) và chỉ sổ rủi ro được sử dụng để đánh giá chất lượng nước. Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) cũng được sử dụng để nhận dạng nguồn và thông số ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt. Kết quả cho thấy, nước mặt ở các sông, kênh rạch ở huyện Tam Bình có dấu hiệu ô nhiễm chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ và vi sinh vật. Chỉ số chất lượng nước (WQI) dao động từ mức trung bình đến rất tốt. Kết quả CPI cho thấy chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu ô nhiễm nặng tại 4 vị trí bao gồm VT2 (tháng 3), VT5, VT8 (tháng 6) và VT8 (tháng 11) còn lại nằm ở mức trung bình hoặc ô nhiễm nhẹ do nhóm các chỉ tiêu chất hữu cơ và vi sinh vật gây ra. Kết quả tính toán chỉ số ô nhiễm hữu cơ OPI cho thấy nước mặt tại các vị trí mới bắt đầu ô nhiễm cho đến ô nhiễm nặng. Điều này cho thấy tác động của các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội đã ảnh hưởng đến chất lượng nước. Kết quả đánh giá mức độ rủi ro cho thấy chật lượng nước của huyện chủ yếu bị ô nhiễm hữu cơ ở mức trung bình đến cao bởi các thông số BOD, COD, TSS và Amoni. Trong đó TSS có mức độ rủi ro cao là một trong những nhân tố gây tác động lớn nhất đến chất lượng nước. Kết quả PCA nhận dạng có 3 nguồn phát sinh ô nhiễm gồm PC1, PC2, PC3 giải thích đến 91,4% cho sự biến động chất lượng nước mặt. Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm nước mặt chủ yếu do hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và nước mưa chảy tràn cuốn theo các vật chất ô nhiễm từ mặt đất xuống các sông rạch trên địa bàn huyện. Các thông số pH, DO, TSS, COD, BOD, N-NH4+, P-PO43-, N-NO3- và Coliform, nhiệt độ đóng góp lớn vào sự ô nhiễm nước mặt huyện Tam Bình.
Description: 69 tr.</description>
    <dc:date>2024-05-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
</rdf:RDF>

