<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
  <channel rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/2592">
    <title>DSpace Collection: Viện Hàn lâm KH và CN VN</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/2592</link>
    <description>Viện Hàn lâm KH và CN VN</description>
    <items>
      <rdf:Seq>
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70818" />
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70817" />
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70816" />
        <rdf:li rdf:resource="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70815" />
      </rdf:Seq>
    </items>
    <dc:date>2026-04-12T12:18:24Z</dc:date>
  </channel>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70818">
    <title>Lựa chọn điều kiện tinh chế endoglucanase tái tổ hợp có nguồn gốc từ vi khuẩn dạ cỏ dê ở tế bào Escherichia coli</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70818</link>
    <description>Title: Lựa chọn điều kiện tinh chế endoglucanase tái tổ hợp có nguồn gốc từ vi khuẩn dạ cỏ dê ở tế bào Escherichia coli
Authors: Nguyễn, Thị Quý; Nguyễn, Hồng Dương; Đào, Trọng Khoa; Nguyễn, Khánh Hoàng Việt; Nguyễn, Khánh Hải; Trương, Nam Hải; Đỗ, Thị Huyền
Abstract: Cellulase là enzyme quan trọng cắt liên kết β-1,4 glucoside trên phân tử cellulose để giải phóng ra đường glucose, là chất có giá trị kinh tế và có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Gen mã hóa cho endoglucanase khai thác từ hệ vi khuẩn sống trong dạ cỏ dê có chiều dài 1545 bp đã được biểu hiện thành công trong Escherichia coli Rosetta2. Trong công trình này, endoglucanase tái tổ hợp đã được tinh chế bằng cột sắc ký ái lực với his -tag với các phương pháp khác nhau như sử dụng đệm phosphate có hoặc không có muối natri clorua, sơ chế mẫu với ammonium sulphate trước khi đưa mẫu lên cột, sử dụng các nồng độ khác nhau của imidazole trong quá trình rửa. Cuối cùng, endoglucanase đã được tinh chế thành công bằng cột sắc ký ái lực his-tag với đệm không có muối NaCl, sử dụng imidazole 150 mM cho phân đoạn rửa và enzyme được thu lại trong đệm chứa 400 mM imidazole. Enzyme tái tô hợp sau tinh chế có độ tỉnh sạch lên tới 99%. Kết quả kiểm tra hoạt tính của cellulase tái tổ hợp trên đĩa thạch đã cho thấy mặc dù hoạt tính kém hơn cellulase thương mại (Sigma) nhưng enzyme đã thủy phân CMC tạo thành một vòng sáng quanh giếng. Enzyme tinh chế có thể được sử dụng làm nguyên liệu cho các nghiên cứu sâu hơn.</description>
    <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70817">
    <title>Ảnh hưởng của bổ sung khoáng nano trong khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng của lợn thịt</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70817</link>
    <description>Title: Ảnh hưởng của bổ sung khoáng nano trong khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng của lợn thịt
Authors: Hoàng, Nghĩa Sơn
Abstract: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung nano khoáng trong khẩu phần thức ăn đến sự tăng trưởng của lợn thịt. Tổng số 180 lợn thịt sử dụng cho nghiên cứu này, được chia thành 4 nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng, mỗi nhóm 3 ô, mỗi ô 12 con (tương ứng 3 lần lặp lại). Kết quả nghiên cứu cho thấy, khối lượng lợn thịt lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm không có sự khác biệt về mặt thống kê. Khối lượng tăng trọng/ngày của lợn thịt giữa nhóm đối chứng và nhóm thí nghiệm như nhau. Tuy nhiên,  chỉ  số  chuyển hóa thức  ăn  của  4 nhóm thí nghiệm I, II, III và  IV  tương ứng 3,00±0,28; 2,95±0,11; 2,85±0,19 và 2,90±0,24 đều thấp hơn so với nhóm đối chứng (3,17±0,42). Hàm lượng kim loại Fe, Cu, Zn và Mn tồn dư trong gan lợn thịt đều thấp hơn so với ở nhóm đối chứng. Ngoài ra, lượng kim loại Fe và Zn trong nước tiểu và phân của các nhóm thí nghiệm cũng thấp hơn so với nhóm đối chứng. Các kết quả trên cho thấy việc bổ sung nano khoáng trong thức ăn đã giúp tăng khả năng chuyển hóa thức ăn ở lợn thịt, giảm lượng thức ăn cho 1 kg tăng trọng đồng thời làm giảm lượng các kim loại thải ra môi trường.</description>
    <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70816">
    <title>Nghiên cứu đa hình gen CYP3A5 ở người Kinh Việt Nam</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70816</link>
    <description>Title: Nghiên cứu đa hình gen CYP3A5 ở người Kinh Việt Nam
Authors: Vũ, Phương Nhung; Nguyễn, Đăng Tôn; Nguyễn, Hải Hà
Abstract: CYP3A5 là một trong 4 gen thuộc cụm gen CYP3A mã hóa cho các enzyme tham gia chuyển hóa nhiều loại thuốc, các hợp chất nội sinh và các hợp chất xenobiotic khác. Trong đó, CYP3A5 tham gia chuyển hóa hơn 30% thuốc lâm sàng được kê đơn. Khả năng chuyển hóa thuốc của CYP3A5 cũng như các gen khác thuộc họ CYP3A phụ thuộc chủ yếu vào di truyền. Trong số các biến thể đã biết của CYP3A5, *3, *6, *8 và *9 là các biến thể tạo nên protein bị giảm hoặc không có hoạt tính. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp giải trình tự trực tiếp để xác định các biến thể quan trọng của gen CYP3A5 bao gồm *3, *6, *8 và *9 trên 100 người Kinh khỏe mạnh. Kết quả cho thấy CYP3A5*3 là biến thể phổ biến nhất với tần số xuất hiện là 67,5%. Năm mươi phần trăm cá thể mang alen *3 có kiểu gen đồng hợp tử CYP3A5*3/*3. Không có cá thể nào được xác định là mang các biến thể *6,*8 và *9. Dữ liệu thu được của nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả điều trị các bệnh có sử dụng các loại thuốc chuyển hóa bởi CYP3A5.</description>
    <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
  <item rdf:about="https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70815">
    <title>Biểu hiện một số gen kiểm soát miễn dịch và nồng độ CA125 ở bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/70815</link>
    <description>Title: Biểu hiện một số gen kiểm soát miễn dịch và nồng độ CA125 ở bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn
Authors: Đỗ, Thị Trang; Nguyễn, Thị Xuân
Abstract: Tăng hồng cầu vô căn (THCVC) vì bênh ung thư máu tiến triển chậm, liên quan đến tăng sinh tủy ác tính. Bệnh liên quan đến sự tăng sinh bất thường của 3 dòng tế bào, gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu và triệu chứng ngứa điển hình do kích hoạt tế bào mast cell tiết ra chất gây ngứa. Một số gen tham gia kiểm soát miễn dịch bao gồm CTLA-4, PD-1 và LAG3, biểu hiện tăng cao liên quan đến hoạt động của hệ miễn dịch đối kháng. Gen klotho có chức năng chống lão hóa, viêm vùng thư. Nhóm gen SHP là những gen thuộc họ tín hiệu protein tyrosine phosphatase điều hòa sự tăng sinh tế bào ung thư thông qua sự thuần thục, sự di cư và sự chết apoptosis, gồm hai loại gen chính là SHP-1 và SHP-2. Nồng độ kháng nguyên ung thư CA125  tăng lên trong máu được sử dụng như một chỉ thị sinh hoc trong chẩn đoán một số bênh ung thư máu và cơ quan tạo máu. Trong nghiên cưu này, chúng tôi tiến hành xác định biểu hiện mRNA của các gen này trên bênh nhân THCVC bằng kỹ thuật realtime-PCR và nồng độ CA125 bằng kỹ thuật ELISA. Kết quả cho thấy, biểu hiện các gen klotho, LAG3, CTLA-4 và PD-1 giảm xuống ở bênh nhân THCVC chỉ ra hệ miễn dịch đối kháng chưa hoạt động. Nồng độ CA125 tăng cao rõ rệt so với người khỏe và 3 bênh nhân có nồng độ CA125 tăng tỷ lệ thuận với chỉ số hóa sinh LDH, AST và ALT trong máu người bênh. Kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quan trọng cho nghiên cứu tiếp theo giúp chẩn đoán phát hiên sớm ung thư THCVC.</description>
    <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
  </item>
</rdf:RDF>

