<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection: Hội ngôn ngữ học Việt Nam</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/103205</link>
    <description>Hội ngôn ngữ học Việt Nam</description>
    <pubDate>Sun, 12 Apr 2026 15:05:31 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-04-12T15:05:31Z</dc:date>
    <item>
      <title>Tiếng Việt với quá trình hội nhập của dân tộc Chứt</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126816</link>
      <description>Title: Tiếng Việt với quá trình hội nhập của dân tộc Chứt
Authors: Bùi, Thị Ngọc Anh
Abstract: Về mặt dân tộc học, dân tộc Chứt có nhiều nhóm địa phương khác nhau như: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng, Kri Phoóng. Với điều kiện tư liệu hiện nay, bài viết đi sâu miêu tả và phân tích thực tế sử dụng ngôn ngữ của ba nhóm địa phương: Kri Phoóng, Mã Liềng và Rục. Trên cơ sở thực tiễn giao tiếp của ba nhóm này, bài viết tập trung nhận diện vai trò của tiếng Việt trong đời sống cộng đồng người bản địa và đưa ra khuyến nghị về chính sách ngôn ngữ phù hợp trong bối cảnh hội nhập. Bài viết xem đây như một nghiên cứu trường hợp (case study) đối với thực tiễn sử dụng ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) ở nước ta nói chung. Tư liệu của bài viết gồm 529 phiếu điều tra xã hội học về tình hình sử dụng tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Các kết quả được xử lý bằng phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy tiếng Việt ngày càng chiếm ưu thế trong các ngữ cảnh giao tiếp xã hội, đặc biệt ở môi trường hành chính, giáo dục và giao tiếp liên dân tộc. Tỷ lệ sử dụng tiếng Việt trong các tình huống như họp xã, đi chợ, giao tiếp với người Kinh đều vượt 85% ở cả ba cộng đồng. Ngược lại, tiếng mẹ đẻ chủ yếu tồn tại trong các hoạt động văn hóa, lễ nghi như cúng bái, hát dân ca và kể chuyện dân gian. Dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội kết hợp với lý thuyết hội nhập xã hội hiện đại, bài viết chỉ ra trạng thái song ngữ bất đối xứng đang hình thành, trong đó tiếng Việt giữ vai trò ngôn ngữ hội nhập, còn tiếng mẹ đẻ đang bị thu hẹp chức năng giao tiếp. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình chính sách “ngôn ngữ song ngữ cộng sinh”, giúp cân bằng giữa yêu cầu hội nhập và bảo tồn bản sắc, góp phần phát triển bền vững cho các cộng đồng DTTS tại Việt Nam.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126816</guid>
      <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Giáo sư Hoàng Tuệ với việc tư vấn, cải tiến, xây dựng và sử dụng chữ viết các dân tộc thiểu số</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126774</link>
      <description>Title: Giáo sư Hoàng Tuệ với việc tư vấn, cải tiến, xây dựng và sử dụng chữ viết các dân tộc thiểu số
Authors: Đoàn, Văn Phúc
Abstract: Giáo sư Hoàng Tuệ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lỗi lạc, uyên bác của ngành ngôn ngữ học Việt Nam - đã để lại hơn một trăm công trình và bài viết liên quan tới ngôn ngữ, cùng những suy nghĩ, tư vấn về chính sách đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Trong di sản khoa học của Giáo sư, tuy không có một cuốn sách riêng về ngôn ngữ dân tộc thiểu số, nhưng những người nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nước ta về lĩnh vực này vẫn hiểu rõ tầm nhìn cùng sự tư vấn của ông với tư cách là một nhà nghiên cứu, một nhà quản lý có tầm chiến lược, đặc biệt liên quan tới Quyết định 53-CP. Nhân Hội thảo quốc gia: “Giáo sư Hoàng Tuệ với ngôn ngữ trong đời sống xã hội”, chúng tôi muốn làm rõ tầm nhìn chiến lược của ông trong việc tư vấn ban hành, cũng như tổ chức thực thi chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126774</guid>
      <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Các kiểu câu được sử dụng gián tiếp thực hiện hành động ngôn ngữ cầu khiến trong kịch của Lưu Quang Vũ</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126773</link>
      <description>Title: Các kiểu câu được sử dụng gián tiếp thực hiện hành động ngôn ngữ cầu khiến trong kịch của Lưu Quang Vũ
Authors: Chu, Thị Thùy Phương
Abstract: Bài viết tập trung nghiên cứu cách thức nhân vật trong kịch của Lưu Quang Vũ sử dụng các kiểu câu không trực tiếp cầu khiến nhưng vẫn thể hiện rõ ý đồ yêu cầu, đề nghị hay thúc giục thông qua hành vi cầu khiến gián tiếp. Trên cơ sở lý thuyết hành vi ngôn ngữ và các nguyên tắc ngữ dụng học, tác giả khảo sát ba kiểu câu chủ yếu: nghi vấn, trần thuật và cảm thán. Qua việc phân tích các phát ngôn cụ thể trong tác phẩm, bài viết chỉ ra rằng: câu nghi vấn có thể mang mục đích khuyên ngăn, thúc giục hoặc đề nghị; câu trần thuật, dù không có hình thức biểu hiện cầu khiến rõ ràng, vẫn được sử dụng để thể hiện mong muốn, yêu cầu hoặc lời nhắc nhở; còn câu cảm thán lại thể hiện tình cảm mạnh mẽ nhằm tác động đến hành vi của người nghe một cách gián tiếp. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng linh hoạt các kiểu câu mang chức năng cầu khiến gián tiếp là nét đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ kịch của Lưu Quang Vũ, đồng thời góp phần làm nổi bật tâm lý nhân vật, chiều sâu nội dung và hiệu quả giao tiếp trong tác phẩm.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126773</guid>
      <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Uyển ngữ với nguyên tắc công tác trong đàm phán thương mại (Qua hai giáo trình “Tiếng Trung Quốc thương mại” và “Tiếng Việt thương mại”)</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126772</link>
      <description>Title: Uyển ngữ với nguyên tắc công tác trong đàm phán thương mại (Qua hai giáo trình “Tiếng Trung Quốc thương mại” và “Tiếng Việt thương mại”)
Authors: Nguyễn, Thị Khánh Vân
Abstract: Uyển ngữ là hiện tượng ngôn ngữ đặc thù, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, thương mại,... Việc sử dụng uyển ngữ giúp cách diễn đạt trở nên uyển chuyển, lịch sự trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Trên cơ sở lý thuyết về hàm ý hội thoại của Grice (1975), bài báo tiến hành phân tích một số hàm ý hội thoại trong hai cuốn giáo trình: Hán ngữ khẩu ngữ Thương mại trung cấp (经贸中级汉语口语) và Giáo trình khẩu ngữ tiếng Việt trong thương mại. Qua đó, nghiên cứu làm rõ vai trò, sự cần thiết của việc sử dụng uyển ngữ cũng như các trường hợp vi phạm phương châm cộng tác trong đàm phán thương mại.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126772</guid>
      <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

