<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection: Hội Hóa học Việt Nam</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/1747</link>
    <description>Hội Hóa học Việt Nam</description>
    <pubDate>Sun, 15 Mar 2026 12:25:15 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-03-15T12:25:15Z</dc:date>
    <item>
      <title>Khảo sát một số hoạt tính sinh học của cao chiết từ hoa cây đậu biếc (Clitoria ternatea)</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124592</link>
      <description>Title: Khảo sát một số hoạt tính sinh học của cao chiết từ hoa cây đậu biếc (Clitoria ternatea)
Authors: Võ, Thị Xuyến; Nguyễn, Thị Thanh Tú; Trần, Nguyễn Thị Thu Tuyết; Nguyễn, Cao Hồng Nhật; Nguyễn, Hồ Hồng Ngọc; Nguyễn, Ngọc Thành Tân
Abstract: Nghiên cứu tập trung khảo sát một số hoạt tính sinh học của cao chiết từ hoa cây đậu biếc (Clitoria ternatea) nhằm định hướng ứng dụng trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Các hoạt tính được đánh giá bao gồm: hoạt tính chống oxy hóa, khả năng ức chế enzyme α-glucosidase và hoạt tính kháng khuẩn. Kết quả cho thấy cao chiết ethanol 96% có khả năng bắt gốc tự do DPPH mạnh nhất với giá trị IC₅₀ đạt 256,99 µg/ml, trong khi cao chiết ethanol 50% thể hiện hoạt tính bắt gốc tự do ABTS cao nhất với IC₅₀ là 598,78 µg/ml. Cả ba loại cao chiết đều cho thấy mức độ ức chế α-glucosidase thấp. Về hoạt tính kháng khuẩn, cao chiết ethanol 50% ở nồng độ 500 µg/ml cho khả năng ức chế mạnh đối với Pseudomonas aeruginosa ATCC 25922 (đường kính vòng vô khuẩn 19,3 mm) và Bacillus cereus ATCC 11778 (15 mm). Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng hoa đậu biếc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124592</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Nghiên cứu tổng hợp và biến tính copolymer khối styrene-isoprene-styrene (SIS) theo cơ chế ion</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124509</link>
      <description>Title: Nghiên cứu tổng hợp và biến tính copolymer khối styrene-isoprene-styrene (SIS) theo cơ chế ion
Authors: Phạm, Thị Thanh Thủy
Abstract: Trong nghiên cứu này, copolymer khối styrene-isoprene-styrene (SIS) được tổng hợp từ styrene và isoprene bằng phương pháp trùng hợp ion với chất khơi mào sec-butyllithium. Sau đó, copolymer SIS được biến tính thông qua phản ứng epoxy hóa các đoạn isoprene bằng axit performic tạo thành từ phản ứng giữa axit formic và hydro peroxit. Cấu trúc và tính chất của SIS và copolymer epoxy hóa (E-SIS) được đặc trưng bằng các phương pháp hóa lý như phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR), phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton (¹H-NMR), nhiệt độ chuyển pha bằng phương pháp DSC và khối lượng phân tử bằng sắc ký thấm gel (GPC). Kết quả cho thấy hiệu suất trung bình của quá trình tổng hợp SIS đạt 64,57%, trong khi hiệu suất phản ứng epoxy hóa đạt 52,54%.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124509</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Nghiên cứu chế tạo vật liệu xúc tác từ bùn thải của quá trình Fenton, ứng dụng xử lý chất ô nhiễm khó phân hủy sinh học</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124508</link>
      <description>Title: Nghiên cứu chế tạo vật liệu xúc tác từ bùn thải của quá trình Fenton, ứng dụng xử lý chất ô nhiễm khó phân hủy sinh học
Authors: Nguyễn, Xuân Sang
Abstract: Nghiên cứu này tập trung chế tạo vật liệu xúc tác từ bùn thải phát sinh trong quá trình phản ứng Fenton. Bùn thải sau thu hồi được xử lý bằng axit sulfuric, sau đó biến tính bằng phương pháp gia nhiệt vi sóng. Đặc trưng hình thái và cấu trúc tinh thể của vật liệu xúc tác thu được được khảo sát bằng các phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) và hiển vi điện tử quét (SEM). Vật liệu chế tạo được sử dụng làm xúc tác dị thể trong xử lý thuốc nhuộm Rhodamine B (RhB) trong nước với sự có mặt của H₂O₂. Kết quả cho thấy, sau 120 phút phản ứng, tại nồng độ RhB 20 mg/L, hiệu suất xử lý đạt trên 98% với 15 mM H₂O₂, liều lượng xúc tác 0,4 g/L và pH ban đầu bằng 4,0. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng tái sử dụng bùn thải xử lý nước thải để chế tạo vật liệu xúc tác phục vụ xử lý nước thải dệt nhuộm.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124508</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Antioxidant activity and flavonoid glycoside from Allium schoenoprasum L. bulbs</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124507</link>
      <description>Title: Antioxidant activity and flavonoid glycoside from Allium schoenoprasum L. bulbs
Authors: Tran, Van Đat; Vu, Thi Khanh Huyen; Nguyen, Thanh Tram; Nguyen, Ngoc Thanh Vy; Pham, Kim Chi; Tran, Thi Phuong Nga; Le, Quoc Thang
Abstract: From Allium schoenoprasum L. (A. schoenoprasum) bulbs cultivated in Quang Tri Province, a flavonoid glycoside, quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside (1), was isolated. The structure of this compound was characterized on the basis of IR and NMR spectroscopic techniques. Furthermore, in vitro assays such as DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl) radical scavenging were employed for the determination of the antioxidant activities of the extracts. The results showed that the ethyl acetate and methanol extracts from A. schoenoprasum exhibited antioxidant activity with IC₅₀ values of 119.66 and 473.35 µg/mL, respectively.</description>
      <pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/124507</guid>
      <dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

