<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection: Trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/23</link>
    <description>Trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh</description>
    <pubDate>Fri, 13 Mar 2026 12:00:18 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-03-13T12:00:18Z</dc:date>
    <item>
      <title>Chất lượng giáo dục và đào tạo tác động đến mức độ hài lòng của học sinh</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71119</link>
      <description>Title: Chất lượng giáo dục và đào tạo tác động đến mức độ hài lòng của học sinh
Authors: Nguyễn, Phương Thúy; Nguyễn, Văn Phương
Abstract: Nghiên cứu nhằm xác định sự hài lòng của học sinh đối với chất lượng giáo dục và đào tạo với bốn thành phần: chương trình giảng dạy, khả năng giáo dục kỹ năng sống, cơ sở vật chất và cách quản lý đào tạo của Nhà trường. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở khảo sát 372 học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy cách tổ chức quản lý đào tạo của Nhà trường và cơ sở vật chất có tác động tích cực đến sự hài lòng của học sinh. Ngoài ra, chương trình giảng dạy và khả năng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có tác động chưa thật sự tích cực đến sự hài lòng của học sinh. Nhìn chung, kết quả giúp các nhà quản lý nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của học sinh, từ đó xây dựng cho đơn vị mình một chương trình giảng dạy phù hợp hướng đến mục tiêu chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao uy tín cho Nhà trường.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2020 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71119</guid>
      <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Giá trị kinh tế của vỉa hè tại thành phố Hồ Chí Minh</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71118</link>
      <description>Title: Giá trị kinh tế của vỉa hè tại thành phố Hồ Chí Minh
Authors: Nguyễn, Thị Hồng Thu
Abstract: Vỉa hè ở Việt Nam có một số điểm nổi bật so với các nước khác trên thế giới vì có rất nhiều hoạt động kinh doanh diễn ra trên vỉa hè phía trước nhà. Tuy nhiên, hiện tại chưa có nghiên cứu xem xét tác động trực tiếp giữa độ rộng vỉa hè và giá nhà ở riêng lẻ tại một số quốc gia trên thế giới mà trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng mô hình định giá Hedonic xem xét tác động của độ rộng vỉa hè đến giá nhà ở riêng lẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã sử dụng dữ liệu thu thập được của 283 nhà ở riêng lẻ bao gồm thông tin về giá bán, khảo sát hiện trạng sử dụng nhà, đặc điểm của vỉa hè và các tiện ích xung quanh. Kết quả cho thấy độ rộng vỉa hè có tác động làm tăng giá trị nhà ở. Cụ thể, nếu độ rộng vỉa hè trước nhà tăng thêm một mét, giá trị nhà tăng khoảng 4%. Kết quả này có thể được coi là một gợi ý cho các nhà quản lý đô thị để xem xét việc thực hiện chiến lược chỉnh trang và cải tạo vỉa hè để phục vụ cho việc phát triển đô thị, thu phí đối với việc sử dụng vỉa hè.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2020 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71118</guid>
      <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Vận dụng sự phân rã Dupont vào chỉ số ROA: Bằng chứng thực nghiệm về rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71117</link>
      <description>Title: Vận dụng sự phân rã Dupont vào chỉ số ROA: Bằng chứng thực nghiệm về rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Authors: Nguyễn, Thành Hưng
Abstract: Mục tiêu của bài viết vừa là nghiên cứu tìm ra sự giới hạn của chỉ số ROA. Dựa trên cách tiếp cận mô hình DuPont, các yếu tố cấu thành trong công thức phản ánh sự đóng góp của yếu tố đầu vào cho yếu tố đầu ra và sự phân bổ yếu tố đầu ra cho yếu tố đầu vào trong sự cân bằng cấu trúc của chỉ số ROA nhằm mục đích xác định rủi ro hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh đó, mô hình DuPont giải thích các giới hạn đo lường của các chỉ số thống kê và hồi quy. Trong ngữ cảnh nghiên cứu, phương pháp thống kê được trình bày là phương pháp hồi quy OLS. Qua đó, bằng chứng thực nghiệm dựa trên dữ liệu khảo sát bảng của 31 ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2018 và kết quả nghiên cứu cho thấy sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam: (1) về khả năng tạo tính hấp dẫn vốn cho vay của yếu tố đầu ra và (2) sự lấn át của chi phí hoạt động ảnh hưởng đến sự đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2020 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71117</guid>
      <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Chuỗi giá trị tôm sú Quảng Canh ở vùng Tây Nam Bộ</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71116</link>
      <description>Title: Chuỗi giá trị tôm sú Quảng Canh ở vùng Tây Nam Bộ
Authors: Nguyễn, Phú Son; Lê, Văn Ga Nhỏ; Nguyễn, Thị Thu An; Nguyễn, Thùy Trang; Lê, Bửu Minh Quân
Abstract: Nghiên cứu đã được thực hiện dựa vào cách tiếp cận liên kết chuỗi giá trị (CGT) valuelinks của GTZ (Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit – Đức) năm 2008, thông qua các cuộc khảo sát tất cả các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị tôm sú tại 4 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Kiên Giang. Cụ thể đã khảo sát 67 đại lý và trang trại cung cấp con giống, thức ăn và thuốc thủy sản; 339 hộ nuôi tôm sú theo hình thức quảng canh cải tiến (QCCT); 53 thương lái và chủ vựa; 8 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (DNCBXK) và 54 chuyên gia trong ngành, cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo các địa phương. Hai công cụ được sử dụng chính trong nghiên cứu này là lập sơ đồ CGT và phân tích kinh tế chuỗi. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 khâu và 5 kênh phân phối trong CGT tôm sú ở vùng Tây Nam Bộ (TNB). Trong đó, tôm sú phần lớn được tiêu thụ qua kênh phân phối: Hộ nuôi  Thương lái  DNCBXK  Người tiêu dùng nước ngoài (xuất khẩu). Có 3 sản phẩm tôm sú xuất khẩu chính, bao gồm: tôm sú xuất khẩu nguyên con đông lạnh (HOSO), tôm sú xuất khẩu bỏ đầu, đông lạnh (HLSO) và tôm sú xuất khẩu bỏ đầu, lột vỏ, còn đuôi (PTO). Trong đó, tôm PTO tạo được giá trị gia tăng và lợi nhuận cao nhất. Nhìn chung, phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia trong CGT chưa thực sự hợp lý, theo hướng bất lợi cho các hộ nuôi. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cải thiện kênh phân phối thông qua các hoạt động liên kết ngang và liên kết dọc, cũng như cắt giảm chi phí sản xuất tôm nguyên liệu là hai giải pháp hữu hiệu để nâng cấp CGT tôm sú ở vùng TNB.</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2020 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/71116</guid>
      <dc:date>2020-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

