<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/2322</link>
    <description />
    <pubDate>Mon, 12 Oct 2026 15:49:21 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-10-12T15:49:21Z</dc:date>
    <item>
      <title>Đánh giá đa dang thực vật bậc cao và khả năng hấp thụ CO2 tại Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Tân Tuyến</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130528</link>
      <description>Title: Đánh giá đa dang thực vật bậc cao và khả năng hấp thụ CO2 tại Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Tân Tuyến
Authors: Nguyễn, Huỳnh Như Ngọc; Lê, Thị Nhị Quỳnh
Abstract: Đề tài “Đánh giá đa dạng thực vật bậc cao và khả năng hấp thụ CO₂ tại Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Tân Tuyến” được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng đa dạng thực vật bậc cao, xác định các chỉ số đa dạng sinh học, đánh giá đặc điểm sinh trưởng của cây tràm thông qua các chỉ tiêu mật độ, chiều cao và đường kính ngang ngực, đồng thời xác định sinh khối, trữ lượng cacbon và khả năng hấp thụ CO₂ của rừng tràm, từ đó cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2026 tại Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Tân Tuyến, xã Cô Tô, tỉnh An Giang bằng phương pháp thu thập tài liệu, điều tra khảo sát thực địa, lập 9 ô tiêu chuẩn phân bố tại ba phân khu chức năng, kết hợp định danh thành phần loài thực vật bậc cao, đo đạc các chỉ tiêu sinh trưởng của cây tràm và tính toán các chỉ số đa dạng sinh học, sinh khối, trữ lượng cacbon và khả năng hấp thụ CO₂. Kết quả nghiên cứu ghi nhận 65 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 36 họ của 2 ngành thực vật, trong đó ngành Ngọc lan chiếm ưu thế về số lượng họ và loài, phản ánh đặc trưng của hệ thực vật vùng đất ngập nước Tứ giác Long Xuyên. Mật độ cây tràm dao động từ 3.000–20.000 cây/ha, chiều cao trung bình từ 6–21 m và đường kính ngang ngực trung bình từ 3,40–10,07 cm. Tổng sinh khối tươi của toàn khu rừng đạt 43.499,35 tấn, tổng sinh khối khô đạt 22.081,39 tấn, tương ứng với 11.040,70 tấn cacbon tích lũy và khả năng hấp thụ khoảng 40.482,55 tấn CO₂. Kết quả nghiên cứu khẳng định Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Tân Tuyến có giá trị cao về đa dạng thực vật bậc cao và khả năng tích lũy cacbon, góp phần quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, giảm phát thải khí nhà kính và là cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng tràm trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Description: 113 tr.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130528</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Phân tích sự thay đổi các quy định pháp luật về Đánh giá tác động môi trường và Giấy phép môi trường qua thực tiễn thi hành tại thành phố Cần Thơ</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130527</link>
      <description>Title: Phân tích sự thay đổi các quy định pháp luật về Đánh giá tác động môi trường và Giấy phép môi trường qua thực tiễn thi hành tại thành phố Cần Thơ
Authors: Huỳnh, Hoài Khương
Abstract: Nghiên cứu phân tích tiến trình thay đổi của pháp luật về đánh giá tác động môi  trường (ĐTM) và giấy phép môi trường (GPMT) thông qua thực tiễn áp dụng tại thành phố Cần Thơ. Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7/2026, sử dụng phương pháp hệ thống hóa, lịch sử pháp lý, so sánh, phân tích và tổng hợp, kết hợp khảo  sát 20 cán bộ tư vấn cùng 3 chuyên gia và 1 nhà quản lý. Kết quả chỉ ra khung pháp lý  theo Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2020 đã thúc đẩy phân cấp thẩm quyền, gia tăng tính minh bạch và đơn giản hóa thủ tục hành chính, được đánh giá tích cực với mức điểm trung bình từ 3,70 đến 4,10. Thực tế ghi nhận 88,2% ý kiến cho rằng quy định phân loại dự án theo tiêu chí môi trường giúp việc xác định đối tượng phải thực hiện ĐTM và GPMT thuận lợi hơn. Dù vậy, khâu thực thi vẫn tồn tại nhiều rào cản: 95% người khảo sát gặp khó khăn do thiếu cơ sở dữ liệu nền, 83,3% vướng mắc lúc giải thích thuật ngữ khi tham vấn cộng đồng, và 75% hồ sơ bị yêu cầu chỉnh sửa lại phần tính toán tải lượng ô nhiễm. Nhằm giải quyết những vấn đề này, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ bao gồm hoàn thiện cơ chế, số hóa dữ liệu, tiêu chuẩn hóa hướng dẫn kỹ thuật và tăng cường thanh tra, hậu kiểm. Trong đó, 85% ý kiến nhấn mạnh tính cấp thiết của việc nâng cao năng lực chuyên môn cho đơn vị tư vấn và hội đồng thẩm định. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin khoa học góp phần thực hiện tốt công tác ngăn ngừa ô nhiễm, đồng thời kiến nghị mở rộng phạm vi điều tra để kịp thời nhận dạng khó khăn và hoàn thiện chính sách ĐTM, GPMT.
Description: 145 tr.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130527</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trên địa bàn phường Long Mỹ, thành phố Cần Thơ</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130526</link>
      <description>Title: Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trên địa bàn phường Long Mỹ, thành phố Cần Thơ
Authors: Lâm, Mỹ Huyền
Abstract: Nghiên cứu tiến hành đánh giá hiện trạng phát sinh và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa tại phường Long Mỹ, thành phố Cần Thơ. Phương pháp điều tra xã hội học trên 30 hộ gia đình kết hợp cùng thu mẫu, phân loại rác thực tế trong ba ngày được áp dụng để giải quyết các mục tiêu đề ra. Kết quả định lượng chỉ ra hệ số phát thải nhựa dao động từ 0,02 đến 0,04 kg/người/ngày, chiếm tỷ trọng trung bình 8,3% tổng lượng rác sinh hoạt. Các sản phẩm tiện lợi được tiêu thụ với mức độ rất lớn, điển hình là ống hút (86,7%) và túi nilon (83,3%). Về hiện trạng quản lý, nghiên cứu ghi nhận nhiều rào cản từ thực tiễn. Chỉ 50% số hộ duy trì thao tác phân tách rác tại nguồn. Nguyên nhân chính do mạng lưới thiết bị lưu chứa và phương tiện thu gom chưa đồng bộ (đạt tỷ lệ đồng thuận 58,6%). Sự thiếu hụt dịch vụ vận chuyển dẫn đến thói quen xử lý sai quy định, với 40% hộ dân tự đốt rác lộ thiên và 10% vứt xuống hệ thống kênh rạch. Mặc dù nhận thức cộng đồng về mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm khá cao (3,47/5 điểm) và 80% hộ dân sẵn lòng tham gia tập huấn, nhưng rào cản giá thành sản phẩm sinh học (51,7%) cùng với hiệu lực giám sát, xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe (2,87/5 điểm) đã làm giảm hiệu quả thực thi chính sách pháp luật. Từ các kết quả này, nghiên cứu đề xuất những giải pháp khả thi bao gồm: nâng cấp đồng bộ hạ tầng thu gom riêng biệt, tăng cường chế tài xử lý vi phạm kết hợp hệ thống camera giám sát, và áp dụng cơ chế trợ giá cho bao bì thân thiện sinh thái nhằm từng bước cải thiện chất lượng môi trường tại địa phương.
Description: 102 tr.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130526</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130525</link>
      <description>Title: Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ
Authors: Phạm, Lê Quốc Huy; Trần, Duy Tân
Abstract: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Đại Thành, thành phố Cần Thơ thông qua khảo sát 120 hộ gia đình. Kết quả cân thực tế tại 15 hộ gia đình cho thấy khối lượng chất thải phát sinh trung bình đạt 1,799 kg/hộ/ngày, tương ứng với hệ số phát sinh trung bình là 0,710 kg/người/ngày. Chất thải thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất đạt 80,97%; giấy: 2,94%; nhựa: 4,44%; kim loại: 1,55%; thủy tinh: 0,58%; vải: 0,31%; cao su: 0,39%; nolon, xốp: 7,20%; sành sứ, vỏ sò: 0,91% và chất thải nguy hại: 0,72%. Kết quả khảo sát về hạ tầng dịch vụ cho thấy 88,33% hộ gia đình đã tiếp cận hệ thống thu gom với tần suất phổ biến từ 3 lần/tuần trở lên. Tuy nhiên, việc phân loại chất thải tại nguồn vẫn tồn tại hạn chế khi tỷ lệ thực hiện chỉ đạt 63,33% và 80,83% hộ gia đình vẫn bỏ chung chất thải nguy hại vào dòng thải sinh hoạt thông thường. Kết quả khảo sát lưu trữ rác tại hộ gia đình cho thấy 45,84% hộ gia đình vẫn sử dụng bọc nilon và chỉ 5,83% sử dụng thùng có nắp đậy để lưu chứa rác. Điểm thang đo Likert 5 mức của nhận thức dao động từ 2,592 - 3,025; điểm thái độ dao động từ 3,0 - 4,033 và điểm hành vi dao động từ 2,008 - 4,133. Phân tích nhận thức và thái độ cho thấy người dân ghi nhận trách nhiệm cá nhân trong bảo vệ môi trường, nhưng gặp khó khăn khi chuyển đổi sang hành vi thực tế do thiếu hụt hạ tầng lưu chứa chuyên biệt và hướng dẫn kỹ thuật chi tiết. Kết quả này chỉ ra rằng, mặc dù người dân sẵn sàng hợp tác theo định hướng của Luật bảo vệ Môi trường 2020, nhưng hiệu quả quản lý rác thải chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp kỹ thuật, bao gồm việc chuẩn hóa thiết bị lưu chứa tại hộ gia đình, bố trí điểm thu hồi chất thải nguy hại tập trung và đẩy mạnh hướng dẫn ủ phân compost quy mô nhỏ. Những can thiệp này nhằm mục tiêu tối ưu hóa quy trình thu gom, giảm tải áp lực cho bãi chôn lấp và tạo nền tảng vững chắc cho lộ trình quản lý chất thải bền vững tại khu vực đô thị ven sông.
Description: 94 tr.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/130525</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

