<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection: Trường Đại học Y Hà Nội</title>
    <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/8837</link>
    <description>Trường Đại học Y Hà Nội</description>
    <pubDate>Wed, 22 Apr 2026 11:05:03 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-04-22T11:05:03Z</dc:date>
    <image>
      <title>DSpace Collection: Trường Đại học Y Hà Nội</title>
      <url>http://localhost:8080/jspui/retrieve/b60a219b-83e5-482c-b143-c830e5e35090/50003.jpg</url>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/8837</link>
    </image>
    <item>
      <title>Đánh giá kết quả sử dụng vạt cân cơ răng trước che phủ khuyết hổng vùng bàn tay</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97943</link>
      <description>Title: Đánh giá kết quả sử dụng vạt cân cơ răng trước che phủ khuyết hổng vùng bàn tay
Authors: Nguyễn, Thị Thu Hằng; Nguyễn, Hồng Hà; Phạm, Hữu Lư
Abstract: Vạt cân cơ răng trước có nhiều ưu điểm trong phẫu thuật tái tạo khuyết hổng vùng bàn tay, đặc biệt các khuyết hổng có kèm theo tổn thương gân. Nghiên cứu trên 5 bệnh nhân đều có tổn thương khuyết phần mềm, khuyết hoặc lộ gân vùng bàn tay. Kích thước của vạt cân từ 10 x 6cm đến 12 x 10cm. Sử dụng vạt cân cơ răng trước dạng phức hợp gồm cân cơ răng trước và cơ lưng rộng chung cuống ở một bệnh nhân tổn thương rộng viêm bỏng nhiệt. Tất cả các bệnh nhân đều được ghép da mỏng tự thân trên cân trong một thì mổ. Không bệnh nhân nào gặp biến chứng lớn sau mổ như hỏng vạt, chảy máu, nhiễm trùng, toác vết thương phải phẫu thuật lần hai. 3/5 vạt sống hoàn toàn và 2/5 vạt có hoại tử đầu xa nhưng liền sẹo tự nhiên. Các bệnh nhân đều cho kết quả tốt về khả năng che phủ, độ mỏng vạt phù hợp với tổ chức xung quanh và không gây cản trở khi vận động. Vạt cân cơ răng trước với nhiều ưu điểm về độ mỏng, chắc chắn là lựa chọn tốt trong điều trị các tổn khuyết vùng bàn tay.</description>
      <pubDate>Sun, 01 Jan 2023 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97943</guid>
      <dc:date>2023-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Vận động thể lực và các yếu tố liên quan ở học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97913</link>
      <description>Title: Vận động thể lực và các yếu tố liên quan ở học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022
Authors: Lê, Hồng Hoài Linh; Nguyễn, Ngọc Minh; Tăng, Kim Hồng
Abstract: Vận động thể lực đang dần trở thành vấn đề y tế công cộng cần được quan tâm khi tỷ lệ người có thời gian vận động thể lực theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày càng ít. Nghiên cứu cắt ngang được sử dụng nhằm mục tiêu ước lượng tỷ lệ vận động thể lực của học sinh trung học cơ sở và các yếu tố liên quan, với sự tham gia của 318 học sinh ở 2 trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 67,6% học sinh vận động thể lực đầy đủ theo khuyến nghị của WHO, các yếu tố liên quan bao gồm: giới tính nam (PR = 1,22; 95%KTC: 1,04 - 1,43); thời gian ngồi tự học &lt; 2 giờ/ngày (PR = 1,49; 95%KTC: 1,20 - 1,86; PR = 1,25; 95%KTC: 1,06 - 1,47); không tham gia đội tuyển/chơi môn thể thao (PR = 0,55; 95%KTC: 0,48 - 0,64); không có sự động viên, tham gia, giám sát/theo dõi của ba mẹ (PR = 0,53; 95%KTC: 0,42 - 0,66; PR = 0,63; 95%KTC: 0,55 - 0,73 và PR = 0,62; 95%KTC: 0,55 - 0,71); không tham gia với anh/chị/em trong gia đình (PR = 0,75; 95%KTC: 0,62 - 0,90); không tham gia với bạn bè (PR = 0,65; 95%KTC: 0,51 - 0,82).</description>
      <pubDate>Sat, 01 Jan 2022 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97913</guid>
      <dc:date>2022-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Xây dựng quy trình sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm nấm</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97910</link>
      <description>Title: Xây dựng quy trình sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm nấm
Authors: Nguyễn, Xuân Đạt; Vũ, Thị Bích Hồng; Phan, Văn Hiếu; Nguyễn, Thúy Hà; Lê, Văn Hưng; Đặng, Thị Ngọc Dung
Abstract: Làm chủ quy trình công nghệ sản xuất mẫu ngoại kiểm tra chất lượng là một trong những yêu cầu hàng đầu đối với tổ chức ngoại kiểm. Quy trình sản xuất mẫu ngoại kiểm nhuộm soi, định danh và kháng sinh đồ nấm được nghiên cứu trên 4 cặp chủng phân lập từ bệnh nhân và chủng chuẩn gồm: Candida albicans, Cryptococcus neoformans, Candida tropicalis và Candida auris. Bộ mẫu đông khô được sản xuất với giai đoạn làm đông - -40⁰C, nhiệt độ sấy sơ cấp -33⁰C, nhiệt độ sấy thứ cấp 25⁰C, áp suất 200mtor, chất nền lactose 10% sử dụng thiết bị Virtis Advantage Pro SP Scientific. Sản phẩm đông khô có độ sống &gt; 103 CFU/ml, độ ẩm tồn dư &lt; 4%, kết quả độ đồng nhất đạt 100%, độ ổn định duy trì tối thiểu trong 8 tháng. Bộ mẫu dạng dung dịch cho kết quả hình thái của Cryptococcus neoformans duy trì độ ổn định trong 32 ngày, hình thái của Candida albicans, Candida tropicalis và Candida auris duy trì được độ ổn định trong tối thiểu 40 ngày.</description>
      <pubDate>Sat, 01 Jan 2022 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97910</guid>
      <dc:date>2022-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Nồng độ Procalcitonin và C-Reactive Protein huyết tương ở đợt cấp bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiễm khuẩn</title>
      <link>https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97902</link>
      <description>Title: Nồng độ Procalcitonin và C-Reactive Protein huyết tương ở đợt cấp bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiễm khuẩn
Authors: Lại, Thị Tố Uyên; Trần, Huy Thịnh
Abstract: Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ PCT, CRP huyết tương trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (AECOPD) ở 200 bệnh nhân mới nhập viện: 123 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhiễm khuẩn (nhóm bệnh), 77 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính không có nhiễm khuẩn (nhóm chứng) tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022. Kết quả: căn nguyên vi sinh ở nhóm AECOPD nhiễm khuẩn nhiều nhất là vi khuẩn A. baumannii (27,66%), K. pneumonia (13,83%), P. aeruginosa (12,76%). Nhóm bệnh có nồng độ PCT, CRP huyết tương cao hơn nhóm chứng, lần lượt là 7,30 ± 23,54 ng/ml; 76,70 ± 57,06 mg/l so với 0,07 ± 0,12 ng/ml; 10,05 ± 10,85 mg/l với p &lt; 0,01; p &lt; 0,001. Nồng độ CRP và PCT huyết tương tương quan thuận với SLBC với hệ số r = 0,502; 0,396 với p &lt; 0,001.</description>
      <pubDate>Sat, 01 Jan 2022 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/97902</guid>
      <dc:date>2022-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

