Vui lòng dùng định danh này để trích dẫn hoặc liên kết đến tài liệu này: https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/118698
Toàn bộ biểu ghi siêu dữ liệu
Trường DCGiá trị Ngôn ngữ
dc.contributor.advisorTrương, Hoàng Minh-
dc.contributor.authorTrần, Phi Yến-
dc.date.accessioned2025-07-11T02:52:44Z-
dc.date.available2025-07-11T02:52:44Z-
dc.date.issued2025-
dc.identifier.otherLV1968,1969/2025-
dc.identifier.urihttps://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/118698-
dc.description18tr.vi_VN
dc.description.abstractNghiên cứu này được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp 33 hộ nuôi cá thát lát còm ở Hậu Giang và 33 hộ ở An Giang từ tháng 12/2024 đến tháng 4/2025. Mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả kỹ thuật, tài chính, cùng những ưu và nhược điểm của mô hình nuôi tại hai tỉnh. Kết quả cho thấy diện tích nuôi trung bình ở Hậu Giang và An Giang lần lượt là 2.839,4±1.370,2 m² và 2.975,8±1.111,3 m². Mật độ thả giống tương ứng là 59,2±10,5 con/m² và 33,3±7,7 con/m². Thời gian nuôi dao động 8-11 tháng, kích cỡ thu hoạch trung bình đạt 0,3 kg/con và 0,6 kg/con. Tỷ lệ sống ở Hậu Giang là 68,2% và An Giang là 60,5%. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) là 1,4. Năng suất trung bình tại hai tỉnh là 13,4 kg/m²/vụ và 12,7 kg/m²/vụ. Lợi nhuận ở Hậu Giang đạt 142,3 nghìn đồng/m²/vụ, tỷ suất lợi nhuận 17,3%, trong khi ở An Giang là 70,7 nghìn đồng/m²/vụ và 8,4%. Khó khăn lớn nhất trong nuôi cá thát lát còm ở cả hai tỉnh là bị ảnh hưởng từ ô nhiễm môi trường.vi_VN
dc.language.isovivi_VN
dc.publisherTrường Đại Học Cần Thơvi_VN
dc.subjectQuản lý nguồn lợi thuỷ sảnvi_VN
dc.titleSo sánh hiệu quả nuôi cá thát lát còm Chitala ornata (Gray, 1831) trong ao ở tỉnh Hậu Giang và An Giangvi_VN
dc.typeThesisvi_VN
Bộ sưu tập: Trường Thủy sản

Các tập tin trong tài liệu này:
Tập tin Mô tả Kích thước Định dạng  
_file_
  Giới hạn truy cập
548.8 kBAdobe PDF
Your IP: 216.73.216.94


Khi sử dụng các tài liệu trong Thư viện số phải tuân thủ Luật bản quyền.