Please use this identifier to cite or link to this item:
https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126816Full metadata record
| DC Field | Value | Language |
|---|---|---|
| dc.contributor.author | Bùi, Thị Ngọc Anh | - |
| dc.date.accessioned | 2026-04-07T06:25:12Z | - |
| dc.date.available | 2026-04-07T06:25:12Z | - |
| dc.date.issued | 2025 | - |
| dc.identifier.issn | 0868-3409 | - |
| dc.identifier.uri | https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/126816 | - |
| dc.description.abstract | Về mặt dân tộc học, dân tộc Chứt có nhiều nhóm địa phương khác nhau như: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng, Kri Phoóng. Với điều kiện tư liệu hiện nay, bài viết đi sâu miêu tả và phân tích thực tế sử dụng ngôn ngữ của ba nhóm địa phương: Kri Phoóng, Mã Liềng và Rục. Trên cơ sở thực tiễn giao tiếp của ba nhóm này, bài viết tập trung nhận diện vai trò của tiếng Việt trong đời sống cộng đồng người bản địa và đưa ra khuyến nghị về chính sách ngôn ngữ phù hợp trong bối cảnh hội nhập. Bài viết xem đây như một nghiên cứu trường hợp (case study) đối với thực tiễn sử dụng ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) ở nước ta nói chung. Tư liệu của bài viết gồm 529 phiếu điều tra xã hội học về tình hình sử dụng tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Các kết quả được xử lý bằng phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy tiếng Việt ngày càng chiếm ưu thế trong các ngữ cảnh giao tiếp xã hội, đặc biệt ở môi trường hành chính, giáo dục và giao tiếp liên dân tộc. Tỷ lệ sử dụng tiếng Việt trong các tình huống như họp xã, đi chợ, giao tiếp với người Kinh đều vượt 85% ở cả ba cộng đồng. Ngược lại, tiếng mẹ đẻ chủ yếu tồn tại trong các hoạt động văn hóa, lễ nghi như cúng bái, hát dân ca và kể chuyện dân gian. Dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội kết hợp với lý thuyết hội nhập xã hội hiện đại, bài viết chỉ ra trạng thái song ngữ bất đối xứng đang hình thành, trong đó tiếng Việt giữ vai trò ngôn ngữ hội nhập, còn tiếng mẹ đẻ đang bị thu hẹp chức năng giao tiếp. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình chính sách “ngôn ngữ song ngữ cộng sinh”, giúp cân bằng giữa yêu cầu hội nhập và bảo tồn bản sắc, góp phần phát triển bền vững cho các cộng đồng DTTS tại Việt Nam. | vi_VN |
| dc.language.iso | vi | vi_VN |
| dc.relation.ispartofseries | Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống;Số 08 .- Tr.202-211 | - |
| dc.subject | Tiếng Việt | vi_VN |
| dc.subject | Hội nhập xã hội | vi_VN |
| dc.subject | Ngôn ngữ dân tộc thiểu số | vi_VN |
| dc.subject | Chứt | vi_VN |
| dc.subject | Kri Phoóng | vi_VN |
| dc.subject | Mã Liềng | vi_VN |
| dc.subject | Rục | vi_VN |
| dc.subject | Bảo tồn ngôn ngữ | vi_VN |
| dc.title | Tiếng Việt với quá trình hội nhập của dân tộc Chứt | vi_VN |
| dc.type | Article | vi_VN |
| Appears in Collections: | Ngôn ngữ và Đời sống | |
Files in This Item:
| File | Description | Size | Format | |
|---|---|---|---|---|
| _file_ Restricted Access | 19.14 MB | Adobe PDF | ||
| Your IP: 216.73.216.40 |
Items in DSpace are protected by copyright, with all rights reserved, unless otherwise indicated.