Please use this identifier to cite or link to this item: https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/128353
Full metadata record
DC FieldValueLanguage
dc.contributor.advisorNguyễn, Thùy Trang-
dc.contributor.authorNguyễn, Thị Linh Nhi-
dc.date.accessioned2026-06-24T07:01:36Z-
dc.date.available2026-06-24T07:01:36Z-
dc.date.issued2026-
dc.identifier.issnB2205252-
dc.identifier.urihttps://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/128353-
dc.description143trvi_VN
dc.description.abstractĐồng bằng sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng là vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, phương thức canh tác truyền thống còn phụ thuộc nhiều vào phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và tập quán sử dụng nước chưa hợp lý đã làm gia tăng phát thải khí nhà kính, ảnh hưởng đến môi trường và tính bền vững của sản xuất. Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sản xuất lúa theo hướng phát thải thấp tại thành phố Cần Thơ” được thực hiện với cỡ mẫu khảo sát 198 nông hộ, trong đó bao gồm cả nông hộ sản xuất lúa theo tập quán truyền thống và các nông hộ đã chuyển đổi sang mô hình giảm phát thải. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện từ các nông hộ sản xuất lúa trên địa bàn thành phố Cần Thơ, bao gồm cả những hộ đang canh tác theo tập quán truyền thống và hộ đã chuyển đổi sang mô hình giảm phát thải. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả kết hợp kiểm định t-test để so sánh các đặc điểm nhân khẩu – xã hội nhằm khái quát đặc điểm mẫu khảo sát, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận áp dụng mô hình giảm phát thải của nông hộ. Kết hợp với phân tích SWOT để đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ. Kết quả so sánh về hiệu quả kinh tế của hai nhóm nông hộ đã cho thấy, (1) về tổng doanh thu của mô hình giảm phát thải đạt 42.662,07 nghìn đồng/ha/vụ cao hơn so với mô hình truyền thống là 41.656,76 nghìn đồng/ha/vụ; (2) về tổng chi phí thì mô hình giảm phát thải có ưu thế mạnh hơn vì là mô hình tiết kiệm chi phí và thân thiện môi trường nên tổng chi phí/năm ở mức 18.264,9 nghìn đồng/ha/vụ, thấp hơn rất nhiều so với mô hình truyền thống có tổng chi phí cao hơn, vì là mô hình sử dụng nhiều đầu vào hóa học nên có tổng chi phí là 19.848,29 nghìn đồng/ha/vụ; (3) Từ 2 yếu tố tổng chi và tổng thu trên dẫn đến lợi nhuận từ mô hình giảm phát thải cao hơn so với mô hình truyền thống (lợi nhuận từ mô hình giảm phát thải là 24.397,17 nghìn đồng/ha/vụ, lợi nhuận từ mô hình truyền thống là 21.808,46 nghìn đồng/ha/vụ). Kết quả phân tích hồi quy Logistic xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sản xuất lúa theo hướng phát thải thấp cho thấy mô hình nghiên cứu có ý nghĩa thống kê và đạt mức độ phù hợp khá tốt. Cụ thể, mô hình có khả năng dự báo chính xác đạt 80,30%. Kết quả phân tích cho thấy trong tổng số 11 biến độc lập được đưa vào mô hình, có tất cả 4 biến có ảnh hưởng và có ý nghĩa theo từng mức độ với biến phụ thuộc đó là (1) Lao động chính, (2) Vay vốn, (3) Tham gia HTX và (4) Số thửa. Hệ số hồi quy có 2 biến tác động cùng chiều (vay vốn, số thửa) và 2 biến tác động ngược chiều (lao động chính, tham gia HTX). Ngược lại, các yếu tố như: Giới tính, tuổi, học vấn, kinh nghiệm, thu nhập, diện tích và tập huấn không có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi mô hình của các nông hộ theo mô hình giảm phát thải và mô hình truyền thống.vi_VN
dc.language.isovivi_VN
dc.publisherĐại Học Cần Thơvi_VN
dc.titleCác yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sản xuất lúa theo hướng phát thải thấp tại Thành phố Cần Thơvi_VN
dc.typeThesisvi_VN
Appears in Collections:Khoa Phát triển Nông thôn (cũ)

Files in This Item:
File Description SizeFormat 
_file_
  Restricted Access
2.74 MBAdobe PDF
Your IP: 216.73.216.94


Items in DSpace are protected by copyright, with all rights reserved, unless otherwise indicated.