Vui lòng dùng định danh này để trích dẫn hoặc liên kết đến tài liệu này: https://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/8169
Nhan đề: Hiện trạng nghề sản xuất giống cá tra (Pagasianodon hypophthalmus) ở tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Phạm, Thanh Liêm
Trần, Minh Tấn
Từ khoá: Nuôi trồng thủy sản
Năm xuất bản: 2018
Nhà xuất bản: Trường Đại Học Cần Thơ
Tóm tắt: Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12/2018, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 40 hộ ương cá tra trong ao đất và 10 hộ sản xuất giống cá tra ở tỉnh Đồng Tháp, mục tiêu xác định kỹ thuật, hiệu quả sản xuất và tìm ra những nguyên nhân làm giảm chất lượng giống cá tra. Kết quả nghiên cứu này phân ra 2 mô hình đó là sản xuất giống cá tra và ương cá tra. Các chủ cơ sở sản xuất giống được hỏi về qui mô sản xuất của trại, cách chọn và chăm sóc đàn cá bố mẹ, kỹ thuật sinh sản nhân tạo, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và hiểu biết của họ về quản lý chất lượng đàn cá. Qua kết quả tổng diện tích trung bình các trại 6.900m2, mật độ thả cá bố mẹ 0,9 con/m2, tỷ lệ cái/đực 3,83 tỷ lệ nở trung bình 82,22% cơ cấu tuổi cá bố mẹ chủ yếu từ 3 – 7 tuổi, tuổi cá bố mẹ sinh sản tốt nhất 4,5 tuổi và khối lượng 4,4 kg, giá cá bột bán ra dao động từ 1,4 – 2 đ/con với giá bán cá bột cao các trại đều có lời trung bình 1.653,4 triệu/năm, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,73 lần. Ở mô hình ương cá tra giống được chia ra làm 2 nhóm qui mô, nhóm diện tích >=5.000m2 và nhóm diện tích <5.000m2 cả 2 nhóm thả với mật độ từ 860 – 986 con/m2, thời gian ương dao động từ 90 – 180 ngày và tỷ lệ sống đạt 7,6 – 9,9% vào mùa thuận và vào mùa nghịch 3,7 – 5,4%, kích cỡ thu hoạch từ (25 – 35 con/kg), giá bán từ 50 – 60 nghìn/kg cỡ (30 con/kg), hình thức ương chủ yếu ở các hộ là ương một giai đoạn từ cá bột lên cá giống nên dẫn đến hao hụt cao, qui mô >=5.000m2 năng suất bình quân đạt 2 tấn/vụ/1.000m2 vào mùa thuận và mùa nghịch là 1,8 tấn/vụ/1.000m2, lợi nhuận vào mùa thuận 67,33 triệu/vụ/1.000m2 và mùa nghịch 69,88 triệu/vụ/1.000m2, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,41 lần vào mùa thuận và 1,76 lần vào mùa nghịch. Qui mô <5.000m2 năng suất bình quân đạt 2,2 tấn/vụ/1.000m2 vào mùa thuận và mùa nghịch là 1,9 tấn/vụ/1.000m2, lợi nhuận vào mùa thuận 75,62 triệu/vụ/1.000m2 và mùa nghịch 72,42 triệu/vụ/1.000m2, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,77 lần vào mùa thuận và 1,89 lần vào mùa nghịch. Thời gian sử dụng cá bố mẹ, tỉ lệ đực cái và phương pháp trộn lẫn sản phẩm sinh dục hiện đang áp dụng trong sản xuất giống là những vấn đề chính ảnh hưởng đến chất lượng cá bột và ương với mật độ không hợp lý, bệnh xuất hiện ngày càng nhiều, môi trường ao ô nhiễm nặng, thời tiết không ổn đinh là những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sống cá tra giống thấp. Từ khoá: sản xuất nhân tạo cá tra, ương cá tra trong ao đất  1. GIỚI THIỆU Nuôi trồng thủy sản (NTTS) hiện nay đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân. Cá tra là đối tượng nuôi nước ngọt phổ biến ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng thời là sản phẩm chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam, sau con tôm. Nhiều năm qua, số lượng cá giống đã tăng nhanh chóng về chất lượng và số lượng, song ngành sản xuất cá tra giống ĐBSCL đang tồn tại nhiều nhược điểm từ sự phát triển nóng. Theo Phạm Văn Khánh (2003), phần lớn các cơ sở sản xuất cá giống lại thiếu kiểm soát đàn cá bố mẹ qua nhiều thế hệ dẫn tới cận huyết, rồi nạn đưa vào nuôi vỗ khi kích thước còn quá nhỏ (1-1,5kg/con), sinh sản nhiều lần trong năm. Đó là những nguyên nhân khiến chất lượng cá bố mẹ, cá con đang có biểu hiện suy giảm. Biểu hiện rõ nhất là thời tấn/vụ/1.000m2 vào mùa thuận và mùa nghịch là 1,8 tấn/vụ/1.000m2, lợi nhuận vào mùa thuận 67,33 triệu/vụ/1.000m2 và mùa nghịch 69,88 triệu/vụ/1.000m2, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,41 lần vào mùa thuận và 1,76 lần vào mùa nghịch. Qui mô <5.000m2 năng suất bình quân đạt 2,2 tấn/vụ/1.000m2 vào mùa thuận và mùa nghịch là 1,9 tấn/vụ/1.000m2, lợi nhuận vào mùa thuận 75,62 triệu/vụ/1.000m2 và mùa nghịch 72,42 triệu/vụ/1.000m2, tỷ suất lợi nhuận đạt 1,77 lần vào mùa thuận và 1,89 lần vào mùa nghịch. Thời gian sử dụng cá bố mẹ, tỉ lệ đực cái và phương pháp trộn lẫn sản phẩm sinh dục hiện đang áp dụng trong sản xuất giống là những vấn đề chính ảnh hưởng đến chất lượng cá bột và ương với mật độ không hợp lý, bệnh xuất hiện ngày càng nhiều, môi trường ao ô nhiễm nặng, thời tiết không ổn đinh là những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sống cá tra giống thấp.
Mô tả: 20tr.
Định danh: http://dspace.ctu.edu.vn/jspui/handle/123456789/8169
Bộ sưu tập: Khoa Thủy sản

Các tập tin trong tài liệu này:
Tập tin Mô tả Kích thước Định dạng  
_file_
  Giới hạn truy cập
861.06 kBAdobe PDF
Your IP: 3.226.248.180


Khi sử dụng các tài liệu trong Thư viện số phải tuân thủ Luật bản quyền.